A walk in the woods…

DSCF5053

 

 

I attended my first Hash yesterday… The Hash House Harriers is an established running/social club found in most countries in the world. The objectives of the club, as recorded on the club registration card dated 1950, are:

  • To promote physical fitness among our members
  • To get rid of weekend hangovers
  • To acquire a good thirst and to satisfy it in beer
  • To persuade the older members that they are not as old as they feel

Wow…true to their objectives for over half a century!

Yesterday we traveled an hour and a half outside the city for a 10K run / 6K walk in the countryside. I was in the walking group, but I have my sights set on joining those runners before the year’s out. It was about 35 degrees and sauna-like conditions.  I really enjoyed the day. But the rituals…code names…symbols?…I’ve never belonged to an exclusive society before…Unless you count being a Caper…(Come to think of it, we have weird nicknames and rituals and beer is involved..So, yeah, I guess that counts…)

I checked out the Nova Scotia based Halifax Harbour Hash House Harriers on Facebook…They describe their club as “A drinking club with a running problem.”

DSCF5039 DSCF5034 DSCF5025DSCF5024DSCF5042DSCF5052

15 Trends in Education in Simple English (and Vietnamese)

emptydesksI am preparing a presentation on Trends in Education for the staff at the Vietnam Association of Community Colleges. My aim is to provide a working vocabulary that will help in discussions regarding the current context of post-secondary education. I have identified fifteen trends in education that people are talking about. These trends are significant because they relate to what education has become: personal, social, global, and open.

Over the next few weeks I’ll provide a simple (It all needs to be translated!) explanation of each of these terms, point out some of the issues surrounding them, and try to explain how they are impacting post-secondary education. Each entry will (eventually) also provide a Vietnamese version. We will use these entries as a starting point in our discussions which I expect will be mainly in Vietnamese.

Lifelong Learning
How can the College accommodate lifelong learners?

Informal Learning
Why should Colleges be concerned about informal learning?
How can the College support informal learning?

Service Learning
Why should service learning be part of the College curriculum?

Portfolio Learning
How can students use a portfolio to track their learning?

Work-based Learning
What role can the College play in work-based learning?

PLAR (Prior Learning Assessment and Recognition)
What does a formal PLAR process look like?

Flexible Ubiquitous Access

  • e-learning
  • m-learning
  • blended learning
  • context aware u-learning
  • collaborative environments
  • cloud computing

What will learning look like in 2025?

BYOD (Bring your own device)
What are the challenges and security issues involved when students bring their own devices?

OERs (Open Educational Resources)
Should the College have policies in place for creation and use of OERs in the curriculum?

MOOCs (Massive Open Online Courses)
Will MOOCs replace traditional post-secondary courses?

CMS/LMS (Content Management/Learning Management Systems)
What are the benefits of using a Content or Learning Management System?

Meta-skills
Can we teach meta-skills within the curriculum?

Internationalization of Education
How are our students tapping into global education?

Localization of Curriculum
As education becomes global why should we localize our curriculum?

Gender Issues
Is gender really an issue on education today?

Lifelong Learning

Dưới đây là bản tiếng Việt

HCM

Years ago I realized that, with a career in IT, I was on a learning treadmill that was never going to stop. The fact that IT technicians need to be lifelong learners comes as no surprise. But, technicians are no longer alone in this. Exponential growth in knowledge (Knowledge is doubling every 12 months, soon to be every 12 hours) and the fast paced change in technology today affect each of us in every area of our lives. Constant learning is a requirement just to stay in the conversation and, luckily, it’s at our finger tips…literally!  Learning is no longer confined to youth and the classroom but takes place throughout life and in a range of situations.

Lifelong learning is the “lifelong, voluntary, and self-motivated pursuit of knowledge for either personal or professional reasons. As such, it not only enhances social inclusion, active citizenship and personal development, but also competitiveness and employability.[1]

Today, learning outside the classroom is so prevalent that it is being recognized by many traditional colleges and universities. Most post-secondary institutions have a Prior Learning Assessment and Recognition (PLAR) process in place to provide enrolling students with credit for knowledge or skills they have acquired outside of traditional organizations. Some colleges and universities, and also significant commercial organizations, are taking this a step further and formulating plans to offer standard credentials for self-study courses.  And what if a learner hopes to establish credentials outside of any College or University? The Digital badges system, which allows learners to earn “badges” for completing online courses, is one example of a system that could challenge the paradigm of diplomas in higher education. The Chronicle of Higher Education notes that more and more online educational websites are adopting badges to mark achievement.

Another important piece in this issue is portfolio. With a career or personal portfolio a learner can document his knowledge and skills and provide evidence of learning and capacity. I had a friend who was granted placement in a Master’s of Oceanography program at a major University, without any undergraduate studies. What he provided to the University was a portfolio that documented a 25 year career with the Canadian Coast Guard and clearly demonstrated his experience, knowledge, and capabilities.

If the formal post-secondary education system is going to survive, colleges and universities need to offer options for lifelong learners. In A Manifesto for Community Colleges, Lifelong Learning and Autodidacts, Sean Michael Norris suggests that learners are openly looking for alternatives to the traditional credentialing system of universities and colleges. “The new culture of learning is one where learning takes place all the time, everywhere, and according to learners’ own preferences and motivations.” Norris distinguishes between learning, which can be independent, and education, which must be “granted” or credentialed. I can’t argue with his point that “….the degree grants the student her hard-earned credential, but it does not make a person more herself, more productive, more capable, or more sustainably successful.” His main point is that “community colleges are situated best among all institutions of higher education to open education to the lifelong, autonomous learner.” Norris sees the Community College as more humanistic, more open, and ultimately, more learner-centered.


[1] http://www.oiirj.org/ejournal/apr-may-june2012/14.pdf

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

Học tập suốt đời

Việc học ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi học sinh với lớp học nữa, mà việc học diễn ra trong cuộc sống, thông qua rất nhiều tình huống khác nhau.

Học tập suốt đời là “kéo dài cả cuộc đời, mang tính tự nguyện, và  chủ động lĩnh hội kiến thức vì mục đích cá nhân hoặc mục đích nghề nghiệp. Như vậy, nó không chỉ giúp tăng cường hòa nhập xã hội, thực hiện quyền công dân và phát triển cá nhân mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh và cơ hội có việc làm ” [1]

Ngày nay, việc học tập ngoài lớp học là rất phổ biến, và nó đang được rất nhiều trường Cao đẳng và Đại học truyền thống công nhận. Hầu hết các trường sau trung học đều thực hiện Quá trình Công nhận và Đánh giá việc Học ngoài (Quá trình PLAR) để cấp chứng nhận cho người học về những kiến thức hoặc kỹ năng mà họ đã đạt được khi học bên ngoài lớp học. Một số trường Đại học và Cao đẳng và cả những tổ chức thương mại lớn cũng đang lên kế hoạch đưa ra những chuẩn mực để công nhận những khóa tự học. Sẽ như thế nào nếu người học muốn có chứng chỉ không thuộc bất cứ trường Cao đẳng, Đại học nào? Hệ thống Digital badges (Huy hiệu số) cho phép người học được nhận “Huy hiệu” vì đã hoàn thành các khóa học trực tuyến.  Đây là một ví dụ của hệ thống đánh giá mới, hệ thống này có thể thách thức các mô hình văn bằng trong giáo dục đại học.  Tờ Chronicle of Higher Education chỉ ra rằng ngày càng có nhiều trang web giáo dục trực tuyến lựa chọn “Huy hiệu” để đánh giá thành tích học tập.

Một phần quan trọng khác trong việc đánh giá này là Portfolio-Hồ sơ. Với một bộ  Hồ sơ cá nhân hay Hồ sơ sự nghiệp, người học có thể  lưu lại thông tin về kiến thức và kỹ năng đã học và cung cấp minh chứng cho việc học tập và khả năng của mình. Tôi có một người bạn chưa học Đại học, nhưng đã được chấp nhận vào học chương trình Thạc sĩ Hải Dương học tại một trường Đại học lớn. Thông tin mà anh ta cung cấp cho trường Đại học đó chỉ là một cuốn Hồ sơ ghi lại quá trình 25 năm làm việc cho tổ chức Cảnh sát biển Canada và trong cuốn hồ sơ đó anh đã trình bày rõ ràng chi tiết về kinh nghiệm, kiến thức, và khả năng của mình.

Nếu hệ thống giáo dục sau trung học muốn tiếp tục tồn tại, thì các trường cần phải đưa ra các lựa chọn cho việc học tập suốt đời.

[1] http://www.oiirj.org/ejournal/apr-may-june2012/14.pdf

Informal Learning

Dưới đây là bản tiếng Việt

Wikipedia lists the following characteristic of informal learning:

  • It usually takes place outside educational establishments;
  • It does not follow a specified curriculum and is not often professionally organized but rather originates accidentally, sporadically, in association with certain occasions, from changing practical requirements;
  • It is not necessarily planned pedagogically conscious, systematically according to subjects, test and qualification-oriented, but rather unconsciously incidental, holistically problem-related, and related to situation management and fitness for life;
  • It is experienced directly in its “natural” function of everyday life.
  • It is often spontaneous.[1]

informallearningYou Can’t Manage Informal Learning[2]

As you can see from Jane Hart’s graphic, informal learning is often unintentional and results from dealing with daily tasks, reading, observing, having conversations and meeting people. A significant part of informal learning are the meta-skills required for success in the workplace. Informal learning may also be intentional as in the type of activity I’m involved in here: researching, networking, organizing knowledge, and blogging.

And, of course, informal learning is often directly link to social learning and lifelong learning. As, Lisa Nielson, points out, “The articles you read, comments you make, and ideas you share on social platforms like Twitter tell a compelling story of your knowledge and interests. However, right now all of that work is undocumented.” In her blog entry on Knowit, Nielson suggests there may be , “…a way to turn all this learning into something that could be quantified.”…which leads to us to linkages with PLAR and portfolio.

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

Học phi chính thống (thông qua các hoạt động hàng ngày)

Từ điển Wikipedia liệt kê những đặc điểm sau của Informal learning (học thông qua các hoạt động hàng ngày)

  • Việc học thường diễn ra bên ngoài bối cảnh trường lớp
  • Thường không theo một khung chương trình cụ thể nào, cũng không được tổ chức một cách chuyên nghiệp, nhưng diễn ra một cách tự nhiên, không thường xuyên, thường liên quan đến những dịp nhất định, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đang thay đổi.
  • Không nhất thiết phải được lên kế hoạch một cách mô phạm, có hệ thống, không nhất thiết là phải học theo từng môn, học để làm bài kiểm tra, lấy bằng cấp, Informal learning diễn ra một cách tình cờ không có chủ định, chỉ liên quan đến các vấn đề, xử lý tình huống.
  • việc học được trải nghiệm trực tiếp qua các chức năng “tự nhiên” của cuộc sống hàng ngày (ăn, uống, đi chơi, ngồi nói chuyện với gia đình, …)
  • việc học thường là  tự phát [1]

informallearning

Bạn không thể quản lý việc học phi chính thống [2]

Như bạn có thể nhìn thấy từ biểu đồ của Jane Hart, Informal learning thường là không có chủ định, việc học diễn ra thông qua việc xử lý công việc hàng ngày, đọc sách, quan sát, trò chuyện và gặp gỡ mọi người. Một phần quan trọng của Informal learning là những các kỹ năng mềm cần thiết để thành công tại nơi làm việc. Informal learning cũng có thể là có chủ ý, ví dụ trong các hoạt động sau: nghiên cứu, kết nối (networking), tự sắp xếp kiến thức của mình, và viết blog.

Và tất nhiên, informal learning thường liên quan trực tiếp tới học tập mang tính xã hội và học tập suốt đời. Như Lisa Nielson đã chỉ ra, “bài báo bạn đọc, bình luận bạn đưa ra, những ý kiến bạn chia sẻ trên những trang mạng xã hội như Twitter đều thể hiện kiến thức và mối quan tâm của bạn. Tuy nhiên, tất cả những công việc đó chưa được ghi chép lại” Trong blog của mình trên trang Knowit, Nielson đưa ra ý kiến rằng có thể có…. “một cách để định lượng được tất cả việc học này”, điều này khiến chúng ta nghĩ đến PLARportfolio.

[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Informal_learning

[2] http://www.c4lpt.co.uk/blog/2011/10/28/you-cant-manage-informal-learning-only-use-of-informal-media/

Portfolio Learning

Dưới đây là bản tiếng Việt

A portfolio approach to learning is a process and a practice that allows you to know and talk about yourself as a learner, profile your skilled self, and highlight how your learning transfers from one setting to another in order for you to achieve your life, work, and learning goals.
http://www.nscc.ca/learning_programs/portfolio

My employer, the Nova Scotia Community College, requires that all students produce a portfolio of their work as a requirement of graduation. When I have to explain the concept of portfolio to my students I explain it like this….
“If you produce a portfolio and someone who doesn’t know you looks at it, what are they going to discover about you? Ypur portfolio must show them who you are…what you have done… and what you can do.”

A student’s portfolio will include:

  • A statement of career goals
  • A resume
  • Work samples
  • A skills inventory
  • Evidence of knowledge and abilities
  • Learning narratives and reflections

Click on the graphic to check out a few online portfolios from our NSCC Truro IT students…

Portfolios

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

Portfolio Learning:

Phương pháp portfolio là một quá trình cho phép người học biết và nói chuyện với bản thân với tư cách là một người học,   portfolio trình bày thông tin đầy đủ về kỹ năng của bạn, và làm rõ việc học tập của bạn chuyển tiếp từ môi trường này đến môi trường khác như thế nào để các bạn để đạt được mục tiêu về học tập, công việc và mục tiêu cuộc đời.
(tham khảo: http://www.nscc.ca/learning_programs/portfolio)

Trường CĐCĐ Nova Scotia yêu cầu tất cả các học sinh phải làm bản Hồ sơ về quá trình học tập của họ vì đây là yêu cầu bắt buộc để tốt nghiệp. Khi giải thích khái niệm Hồ sơ cho sinh viên của mình,  tôi nói như thế này:

“Nếu bạn tạo ra một Hồ sơ và người nào đó không biết bạn đọc Hồ sơ đó, họ sẽ khám phá được điều gì về bạn?  Hồ sơ của bạn phải cho họ biết bạn là ai, bạn đã làm được những gì, và bạn có thể làm gì? “.

Hồ sơ sinh viên sẽ bao gồm các nội dung sau:

  1. Mục tiêu sự nghiệp
  2. Sơ yếu lý lịch
  3. Sản phẩm mẫu (worksample) (ví dụ sinh viên sư phạm thì worksample là giáo án, bài giảng mẫu; sinh viên kỹ thuật thì worksample có thể là một sản phẩm mà sinh viên tự làm ra)
  4. Các kỹ năng bạn có
  5. Minh chứng về kiến thức và khả năng đã học được
  6. Tóm tắt việc học tập và những bài học rút ra trong quá trình học tập đó.

Work-based Learning

Dưới đây là bản tiếng Việt

work-based learning

When I was in high school, I didn’t think about teaching computer networking as a career…I didn’t think about it because computer networks didn’t exist (I know, I’m old). But as a technology instructor, I absolutely understand that I am training my students for jobs that don’t exist yet. I also have learned the painful lesson that a technology I spent three long years mastering can become obsolete in a matter of months .

With knowledge increasing exponentially companies aren’t just dealing with continual knowledge emergence and knowledge obsolescence. They are also dealing with the disappearance of existing careers and the emergence of new careers.  Many companies have realized that, unless they want to install a revolving door in the HR department, properly designed and implemented work-based learning programs are the best way to ensure that their employees have the skills and knowledge required to thrive in today’s workplace and economy.

Work-based learning may refer to learning delivered by a university, college, or other training provider in the workplace. It may also refer to the informal learning among employees stimulated by the needs of the workplace. Usually, work-based learning addresses a threat or an opportunity (remember SWOT?) the company has identified.

What role can the college play in work-based learning?

Work-based learning can be a partnership between the employer and the college to facilitate learning among employees. In order to develop effective training programs that address the expectations and needs of both employee and employer the college needs to: 

  • Establish strong industry partnerships and understand the issue the training is meant to address
  • Respect the employee-learner by ensuring that recognition of prior learning is an integral component of any offered training
  • Involve the employer in the development of the program, especially when designing work-based projects and assignments.

As a partner in any work-based training the employer needs to:

  • Encourage employees to engage in professional development,
  • Allocate time and resources to support the learners
  • Provide a pathway between learning and practical application of skills and knowledge.

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

Học tập từ công việc

Học tập từ công việc đề cập đến việc học trong môi trường đại học, cao đẳng hoặc các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo khác tại nơi làm việc, thông thường học tập từ công việc phải chịu sự giám sát của một cá nhân trong công ty và một giảng viên ngoài công ty.

Kỹ năng học tập từ công việc:

  1. Phát triển các giải pháp cho các vấn đề tại nơi làm việc dựa trên lý thuyết và thực hành.
  2. Khai thác nơi làm việc như một nguồn tài nguyên học tập.
  3. Quản lý bản thân và người khác.
  4. Phản ánh dựa trên những gì đã học được trong và từ nơi làm việc.
  5. Chuyển giao kiến thức, khả năng và năng lực hiện có đến những bối cảnh mới và những bối cảnh khác nhau.

Tiến hành học tập từ công việc

Vai trò của trường học:

  1. Đảm bảo rằng sự công nhận việc học tập trước là một yếu tố không thể thiếu.
  2. Thiết lập mối quan hệ vững mạnh với các doanh nghiệp.
  3. Đảm bảo có sự tham gia của nhà tuyển dụng trong việc phát triển của chương trình, đặc biệt trong quá trình thiết kế các dự án và chương trình học tập từ công việc.
  4. Phát triển các chương trình tùy chỉnh, đáp ứng được sự mong đợi và nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động.

Vai trò của nhà tuyển dụng:

  1. Khuyến khích nhân viên tham gia vào các chương trình phát triển kỹ năng.
  2. Bố trí cố vấn tại nơi làm việc nhằm hỗ trợ người học.
  3. Khuyến khích trách nhiệm của nhân viên đối với sự phát triển nghề nghiệp cá nhân của họ.
  4. Phát triển các dự án và chương trình học tập từ công việc dựa trên từng mục tiêu cụ thể.

Những thông tin trên cung cấp nền tảng để các tổ chức và nhà tuyển dụng không ngừng nổ lực phối hợp với nhau trong suốt quá trình phát triển các khóa học chuyên biệt này.

Flexible, ubiquitous access to learning

Dưới đây là bản tiếng Việt

Education over the Internet is going to be so big it is going to make email usage look like a rounding error. – John Chambers, CEO of Cisco Systems (1999)

flex·i·ble: Able to be easily modified to respond to altered circumstances or conditions
u·biq·ui·tous: Adjective: Present, appearing, or found everywhere
Dictionary.com

We’re talking about access to learning experiences and the terms above refer to the fact that today learning experiences are everywhere. If we are going to discuss flexible, ubiquitous access to learning there are a number of terms involved which need to be defined:

  • e-learning
  • m-learning
  • blended learning
  • context aware u-learning
  • collaborative environments
  • cloud computing

E-learning, or “electronic-learning”, is a broad term that encompasses all forms and uses of technology in education. E-learning can be self-paced or instructor-led. When we think of eLearning we often envision distance or online learning but it can also be used in conjunction with face-to-face teaching, in which case the term blended learning is commonly used.

mlearningM-learning, or “mobile-learning”, refers specifically to learning with mobile devices. One definition of mobile learning is, “any sort of learning that happens when the learner is not at a fixed, predetermined location, or learning that happens when the learner takes advantage of the learning opportunities offered by mobile technologies.”  (Guidelines for learning/teaching/tutoring in a mobile environment)

As the number of smart mobile devices increases (tablets, phones) the area of developing learning opportunities that operate on these devices is growing as well. One area that is already fairly mature is context aware learning.   City tours and museum tours are examples of context aware programs. And context doesn’t just include location awareness. Many context aware applications use data about your finances, purchases, browsing preferences, family, and friends to customize your online experience. This is the Web 3.0 that is with us now.  It is most often in reference to context aware learning that the term u-learning, or “ubiquitous learning” is used. Ubiquitous learning provides the most appropriate content, collaborators, and services to the learner when he needs it, wherever he is.

Collaborative learning has been around for a long time. Basically, collaborative learning takes place when two or more people learn or attempt to learn something together. Given today’s social and data networks, collaborative learning has taken on a whole new dimension.  A collaborative learning environment (CLE) provides tools and activities for instruction and collaboration, including:

  • Discussion forums and chat
  • Survey tools
  • Calendars
  • Integrated wikis
  • Blogging and tagging tools
  • RSS feeds and podcast support

Moodle, is an example of a collaborative learning environment designed for academic purposes. In addition to the above, Moodle provides a grade book, assessment templates, and feedback options.  Google+  also provides many of the features of a CLE, underlining the fact that learning has become social.

And Google is a perfect segue to cloud computing. Many of the things we used to do with desktop PCs, we now access the web to accomplish…

We use Flickr to store our photos, You Tube to “broadcast” ourselves, Google Docs to create and store documents, Prezi to create and store presentations, Gmail for “available anywhere” mail service and, in case the worst happens,  CrashPlan+ to back up our desktop to the web. Cloud computing refers to accessing resources and services from the internet and using them anywhere.

John Chambers 1999 prediction didn’t happen immediately, but we can see it happening now. Through mobile access, MOOCs, and technologies like Twitter, Linkin, WordPress and YouTube our learning networks are growing exponentially. We have reached the tipping point.

According to Dave Evans, a futurist with Cisco Systems 95% of what we know as a species will be discovered in the next 50 years! Here are some other interesting facts and predictions from his January 2012 video

  • Since 2003 internet traffic increased 270,000 times. this equals a bookshelf stretching from Earth to Pluto 10 times (36 billion miles of data!)
  • 95% of the global population has cellular connectivity
  • There are more than 5 billion mobile phone subscriptions
  • By 2013, 92% of all Internet traffic will be video

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

Xu thế tiếp cận nguồn tài liệu học tập ở khắp mọi nơi, một cách dễ dàng.

Một số thuật ngữ liên quan đến việc tiếp cận nguồn tài liệu học tập.

  • e-learning: Học thông qua các thiết bị học điện tử
  • m-learning: Học thông qua các thiết bị di động
  • blended-learning: Mô hình học kết hợp giữa học trên lớp và học online
  • context aware u-learning: học theo ngữ cảnh, thông qua các thiết bị định vị
  • collaborative environments: Học trong các môi trường học mang tính tương tác cao
  • cloud computing : Sử dụng công nghệ điện toán đám mây

E-learning, hoặc ” electronic-learning “, là một thuật ngữ rộng bao gồm tất cả các hình thức và việc sử dụng công nghệ trong giáo dục. E-learning có thể là tự học hoặc có giảng viên hướng dẫn. Khi chúng ta nghĩ về eLearning chúng ta thường nghĩ tới đào tạo từ xa hoặc học trực tuyến nhưng nó cũng có thể được sử dụng kết hợp với giảng dạy trực tiếp, trong trường hợp này, người ta sử dụng thuật ngữ Blended learning (kết hợp học online và học trên lớp).

M-learning  (mobile-learning) nói đến việc học tập với các thiết bị di động. Moblie learning được định nghĩa là “bất cứ hình thức học nào diễn ra khi người học không ở một chỗ cố định được xác định trước, hoặc việc học diễn ra khi người học có cơ hội học tập thông qua các công nghệ di động ” (tham khảo thông tin trên Guidelines for learning/teaching/tutoring in a mobile environment)

Khi số lượng các thiết bị di động thông minh ngày càng nhiều (máy tính bảng, điệnt thoại) thì việc học tập thông qua các thiết bị này càng phát triển. Một hướng phát triển khá toàn diện của xu hướng này là Context aware learning: Học theo ngữ cảnh. Các tour du lịch trong thành phố, đi thăm bảo tàng là những ví dụ cho các chương trình Học theo ngữ cảnh.  Nói đến Ngữ cảnh không có nghĩa chỉ nói lên việc định vị vị trí của người học. Rất nhiều ứng dụng Định vị đã sử dụng dữ liệu về các thông tin khác của bạn như tài chính, việc mua hàng của bạn, sở thích duyệt web, gia đình, và bạn bè để tuỳ chỉnh kinh nghiệm online của bạn. Công nghệ chúng ta đang sử dụng là web 3.0 . (Giới thiệu về web 3.0) Thường khi nhắc đến Học theo ngữ cảnh, thuật ngữ hay được sử dụng là u-learning hay ubiquitous learning” (học mọi lúc mọi nơi). U-learning cung cấp cho người học nội dung phù hợp nhất, cộng sự và các dịch vụ khi cần cho dù người học đang ở bất cứ nơi nào.

Collaborative learning: Học tương tác

Học tương tác đã ra đời từ rất lâu. Về cơ bản, học tương tác diễn ra khi hai hoặc nhiều người cùng học hoặc cùng tìm hiểu một vấn đề. Nhờ có các mạng xã hội và thông tin ngày nay, học tương tác đã mang một chiều hướng hoàn toàn mới. Một Môi trường học tập tương tác (CLE) cung cấp những công cụ và hoạt động cho việc hướng dẫn, và tương tác, bao gồm:

  • Diễn đàn thảo luận
  • Công cụ điều tra
  • Lịch
  • Từ điển Wikis tích hợp
  • Các công cụ blog và tag
  • RSS feeds và podcast

Moodle là một ví dụ về môi trường học tương tác dùng cho các mục đích học thuật. Moodle cung cấp sổ điểm, các mẫu đánh giá, các cách phản hồi. Google+ đưa ra rất nhiều đặc tính của CLE (Môi trường học tập tương tác) nhấn mạnh thực tế rằng việc học tập đã mang tính xã hội.

Và Google là một ví dụ hoàn hảo cho công nghệ Điện toán đám mây.  Những việc trước đây chúng ta làm trên máy tính thì giờ đây chúng ta có thể thực hiện trên web.

Chúng ta sử dụng Flickr để lưu giữ ảnh, You Tube để “quảng bá” chính bản thân mình, Google Docs để tạo và lưu giữ tài liệu, Prezi để tạo và lưu giữ các bài thuyết trình, Gmail cung cấp dịch vụ mail khắp mọi nơi, và trong trường hợp xấu nhất thì đã có CrashPlan+ để back up dữ liệu từ desktop lên trên web.

PLAR Prior Learning Assessment and Recognition

Dưới đây là bản tiếng Việt

PriorLearning

Prior learning assessment and recognition (PLAR), is a process of evaluating learning acquired outside the classroom for the purpose of assigning academic credit. An individual may have acquired college-level learning through corporate or military training, work experience, or independent study. It may also be referred to as prior learning assessment (PLA)  or recognition of prior learning (RPL). Methods to assess prior learning might  include a challenge exam on course material or a portfolio assessment.

PLAR acknowledges the value of learning outside a formal setting and facilitates access to credentials for ‘non-traditional’ learners. It validates the worth of learning students have achieved by themselves and may allow them to gain access to an advanced program more suited to their abilities. By assessing and recognizing a students’ skills we can eliminates unnecessary repetition and duplication of material already familiar to them. Public (and private) money is better used because people who already have skills and knowledge are not re-trained.

A PLAR process enhances students’ perception and understanding of learning as a lifelong process.

As informal learning options and the need for all of us to be lifelong learners increase, it is important for colleges to have a system of PLAR in place.

Here is an example of a PLAR policy and procedure document from Algonquin College in Canada.

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

PLAR Prior Learning Assessment and Recognition

(Công nhận đánh giá kết quả học tập ngoài lớp học của sinh viên)

Công nhận và đánh giá kết quả học tập PLAR là một quá trình đánh giá việc học tập diễn ra ngoài lớp học để cấp tín chỉ học phù hợp cho người học. Một người có thể lĩnh hội những kiến thức bậc Cao đẳng, Đại học thông qua việc đào tạo tại công ty hoặc đào tạo trong quân đội, thông qua kinh nghiệm làm việc, hoặc là việc tự học. Đây cũng có thể được hiểu là Đánh giá kết quả (PLA) hoặc là Công nhận kết quả (RPL). Các phương pháp đánh giá bao gồm: cho làm bài thi, hoặc đánh giá hồ sơ (portfolio).

PLAR công nhận giá trị của việc học bên ngoài lớp học chính thống,  và cấp chứng chỉ phù hợp cho người học.  Nó công nhận giá trị của việc học mà học sinh tự lĩnh hội, và cho phép họ  học tiếp lên chương trình cao hơn phù hợp với khả năng của mình. Bằng cách đánh giá và công nhận kỹ năng của người học, chúng ta có thể loại bỏ việc dạy lại những kiến thức đã học. Ngân sách nhà nước (cá nhân) được sử dụng hợp lý hơn bởi vì những người đã có kiến thức kỹ năng không bị đào tạo lại phần kiến thức kỹ năng đó.

Quá trình PLAR nâng cao nhận thức và hiểu biết của người học về việc học là cả cả quá trình kéo dài suốt cuộc đời.

Vì ngày càng có nhiều nhu cầu và nhiều sự lựa chọn cho việc học ở ngoài lớp, cho nên các trường rất cần có một hệ thống PLAR của mình.

Đây là ví dụ của chính sách và quy trình PLAR của trường Cao đẳng Algonquin, Canada.

Reference: http://en.wikipedia.org/wiki/Recognition_of_prior_learning

BYOD Bring your own device…

Dưới đây là bản tiếng Việt

Students and faculty are bringing their own technology into the classroom. They come equipped with e-readers, smart phones, tablets, laptops…They expect to access school resources and course resources from their own devices. They also come with their own online identities. They have Email, Dropbox, Google Drive, Evernote, blogs, Facebook sites, twitter accounts…

There are challenges and opportunities involved with having this connectivity and technology on campus. We no longer have the option of saying “Leave it home”. We must deal with it.

Students need access to online course resources; they want to register and pay for courses online; and access their grades online. Instructors want to use their own tablets and laptops and link them to campus infrastructure. They want to communicate with their students in real-time and they want to setup collaborative learning environments online. Everyone wants access to open educational resources. Administrative staff need to ensure sensitive student and faculty data is accurate and secure. Technology staff need to ensure the campus infrastructure can accommodate performance demands and they need to guard against a myriad of security issues.

Colleges need to revisit their existing technology use policies and determine to what extent they cover the use of personal devices and services. At a minimum a college should have a technology policy in place that makes each group (faculty, students and staff) aware of their responsibilities.  If a college decides to develop a BYOD policy it should not be so restrictive as to be dysfunctional. It must provide individuals with choice regarding their technology  (“Blackberry only” no longer works.). Students, faculty, and staff all need to be educated regarding security issues and , of course,  any BYOD policy should be reviewed regularly. Technology is a moving target.

BYOD

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

Mang theo thiết bị học của riêng mình

Sinh viên và giáo viên đang có xu hướng mang công nghệ vào lớp học. Học được trang bị thiết bị đọc sách điện tử (e-readers),smart phones, máy tính bảng, máy tính xách tay. Họ muốn truy cập vào các nguồn tài liệu học tập, các khóa học từ thiết bị riêng của mình. Trên mạng, họ cũng có những danh tính của riêng mình. Họ có email, dropbox, Google Drive, Evernote, blogs, Facebook, tài khoản twitter.

Có những thách thức và cơ hội liên quan đến công nghệ và phương tiện kết nối như thế này. Chúng ta không thể nói “Hãy về nhà giải quyết” được nữa . Chúng ta phải đối đầu với vấn đề này.

Sinh viên cần được tiếp cận với những tài liệu học tập online, họ muốn đăng ký và trả chi phí cho các khóa học trực tuyến, xem kết quả học tập online. Giảng viên muốn dùng máy tính bảng và laptop và kết nối đến trường học. Họ muốn giao tiếp với sinh viên, và họ muốn tạo ra môi trường học tập tương tác online. Mọi người đều muốn tiếp cận những nguồn tài liệu học tập mở. Nhân viên hành chính muốn đảm bảo rằng những dữ liệu về sinh viên và giáo viên phải chính xác và bảo mật. Nhân viên công nghệ thông tin muốn đảm bảo rằng hệ thống cơ sở hạ tầng phải đáp ứng đựng yêu cầu về kết quả công việc, và họ cần bảo vệ hệ thống từ vô số các vấn đề về an ninh.

Các trường đại học cần xem xét lại chính sách sử dụng công nghệ hiện có của trường và xác định lại mức độ sử dụng các thiết bị và dịch vụ cá nhân. Tối thiểu, một trường đại học nên có một chính sách về công nghệ giúp mỗi nhóm (giảng viên, sinh viên và nhân viên) nhận thức được trách nhiệm của mình. Nếu một trường đại học quyết định phát triển chính sách BYOD thì không nên quá hạn chế. Trường cần mang đến sự lựa chọn công nghệ cho từng cá nhân. (ví dụ yêu cầu “Chỉ được sử dụng điện thoại Blackberry” đã không còn hiệu quả) . Sinh viên, giảng viên và nhân viên đều cần phải được giáo dục về các vấn đề an ninh, bảo mật và chính sách BYOD cần được xem xét lại thường xuyên. Công nghệ là một mục tiêu luôn biến động.

OERs (Find, Compose, Adapt, Use, Share…)

Dưới đây là bản tiếng Việt

OERlogo

Open educational resources include full courses, course materials, tests, modules, learning objects, open textbooks, streaming videos, software, and any other tools, materials, or techniques used to support access to knowledge. OERs are defined as teaching, learning, and research resources that reside in the public domain or have been released under an intellectual property license that permits their free use and re-purposing by others. http://en.wikipedia.org/wiki/Open_educational_resources

There are a lot of learning resources on the internet. What distiquishes open educational resources is usually that they are licensed under a Creative Commons license to be copied, distributed, edited, remixed, and built upon. There are six possible Creative Commons licenses made up of  four copy restrictions:

cc-licenses-terms

This Graphic is from http://education-copyright.org The license is CC BY

Today, many educational institutions are involved in the OER movement as prosumers (producers and consumers of freely available educational content). In just as many instances, individual faculty members are involved in producing and using OERs at institutions that have not yet recognized the need for an OER strategy.

In her article, Giving Knowledge for Free: The Emergence of Open Educational Resources, Jan Hylen lists six reasons institutions should be involved in OER projects as producers and contributors:

  • The altruistic argument that sharing knowledge is in line with academic traditions and a good thing to do.
  • Educational institutions (particularly those publicly financed) should leverage taxpayers’ money by allowing free sharing and reuse of resources.
  • Quality can be improved and the cost of content development reduced by sharing and reusing.
  • It is good for the institution’s public relations to have an OER project as a showcase for attracting new students.
  • There is a need to look for new cost recovery models as institutions experience growing competition.
  • Open sharing will speed up the development of new learning resources, stimulate internal improvement, innovation and reuse and help the institution to keep good records of materials and their internal and external use.

And what about the College as a consumer of OERs?
It would be difficult to find an instructor who has not used open educational resources in their teaching. But, free is not always good and  instructors who adapt OERs should consider quality and appropriateness. OERs should be assessed on:

  • accuracy
  • reputation of author/institution
  • standard of technical production
  • accessibility
  • fitness for purpose

A college that does not have an OER strategy should at a very minimum provide a rubric for faculty members to use when they are trying to find appropriate OERs.

Vietnamese version by:
Nguyen Thi Nhung 
Training cum International Collaboration Specialist
Center of Training and Enterprise Co-operation Tra Vinh University

OERs (Open Educational Resources) Tài nguyên giáo dục mở

Tài nguyên giáo dục mở bao gồm các khóa học, tài liệu học tập, bài kiểm tra, các học phần, các đối tượng học tập, sách giáo khoa mở, video trực tuyến, phần mềm và các công cụ, tài liệu, hoặc các kỹ thuật khác được sử dụng để hỗ trợ tiếp cận tri thức. Tài nguyên giáo dục mở  được định nghĩa là các nguồn tài nguyên giảng dạy, học tập mà không có bản quyền sử dụng hoặc đã được phát hành theo giấy phép sở hữu trí tuệ cho phép sử dụng miễn phí tài liệu đó và tái sử dụng với những mục đích khác .
http://en.wikipedia.org/wiki/Open_educational_resources

Có rất nhiều nguồn tài nguyên học tập trên internet. Điểm khác biệt của tài nguyên học tập mở là những nguồn tài liệu này được cấp phép theo giấy phép Creative Commons để được sao chép, phát tán, chỉnh sửa, và xây dựng tùy theo mục đích người sử dụng.

Ngày nay rất nhiều Tổ chức giáo dục đã tham gia phong trào OER với tư cách vừa là người tạo nguồn và người sử dụng những nội dung đào tạo có sẵn và miễn phí. Trong rất nhiều trường hợp, nhà trường chưa công nhận sự cần thiết của OERs, nhưng các giáo viên, giảng viên đã đang tạo nguồn và sử dụng nguồn tài nguyên mở này.

Trong một bài báo của tác giả Jan Hylen về “Kiến thức cho đi miễn phí: Sự xuất hiện của tài nguyên giáo dục mở” năm 2006, tác giả đã liệt kê 6 lý do mà các tổ chức nên tham gia vào các dự án OER

  •  Chia sẻ kiến thức là đi đúng theo truyền thống giáo dục và là việc làm tốt.
  • Các Tổ chức giáo dục (đặc biệt là những trường công) nên tận dụng nguồn tài chính của những người đóng thuế bằng cách cho phép chia sẻ miễn phí và sử dụng lại các nguồn tài nguyên học tập.
  • Chất lượng được cải thiện và giảm chi phí phát triển nội dung bằng cách chia sẻ và sử dụng lại tài nguyên học tập.
  • Việc có một dự án OER cũng tốt cho chiến dịch PR của các trường vì sẽ thu hút được nhiều sinh viên.
  • Vì tính cạnh tranh giữa các trường ngày càng nhiều, cho nên cần phải tìm kiếm các chính sách chi phí/học phí mới.
  • Việc chia sẻ sẽ tăng tốc độ phát triển các nguồn tài nguyên học tập mới, thúc đẩy cải tiến nội bộ, đổi mới và tái sử dụng và giúp tổ chức lưu giữ và quản lý việc sử dụng tài liệu.